-
Giữa những biến động nhanh, phức tạp của thế giới và yêu cầu hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV diễn ra từ ngày 20/7 - 24/7 vừa qua mang ý nghĩa chiến lược rất lớn của một hội nghị kiến tạo tư duy, không gian và năng lực phát triển đất nước. Không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt, Hội nghị đã xác lập những quyết sách chiến lược, đột phá nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị quốc gia và tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá trong nhiều thập niên tới.
Ý nghĩa của Hội nghị đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong bài phát biểu khai mạc: “Hội nghị thuộc nhiều lĩnh vực nhưng cùng hướng tới mục tiêu cao hơn: tạo lập năng lực lãnh đạo, cầm quyền, quản trị, hành động, phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới”. Đó không chỉ là định hướng xuyên suốt của hội nghị mà còn phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển có nhiều thời cơ và thách thức đan xen.
Quy mô và tầm vóc của hội nghị được thể hiện trước hết ở 13 nội dung được Trung ương đưa ra thảo luận, quyết định. Các nội dung trải rộng từ xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, tổ chức không gian và quản trị nguồn lực phát triển, đổi mới mô hình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đến bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nếu như Đại hội XIV đã xác định tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn, thì tới Hội nghị lần này Đảng ta đã cụ thể hóa những mục tiêu, nhiệm vụ đó bằng hệ thống các nghị quyết, kết luận và quyết sách mang tính nền tảng, nhằm chuyển hóa ý chí chính trị thành năng lực hành động, chuyển các nguồn lực tiềm năng thành động lực phát triển thực chất. Mỗi nghị quyết được thông qua không tồn tại riêng lẻ mà được thiết kế trong một chỉnh thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng Đảng với quản trị quốc gia, giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, giữa đổi mới thể chế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Chính sự thống nhất đó đã tạo nên giá trị đặc biệt quan trọng của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.
Điểm đáng chú ý là các quyết sách của hội nghị được đặt ra từ một nhận diện rất thẳng thắn về những điểm nghẽn đang cản trở quá trình phát triển. Trung ương thống nhất đánh giá, trong 6 tháng đầu năm 2026, việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết chiến lược được triển khai khẩn trương, quyết liệt, nhưng “điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi”. Đó là tình trạng thẩm quyền có nơi chưa đi liền với trách nhiệm; phân cấp chưa gắn đầy đủ với nguồn lực, dữ liệu, công cụ, năng lực cán bộ và kiểm soát; nguồn lực còn chia cắt; tăng trưởng chưa dựa đủ vào năng suất và nội lực. Nhìn thẳng vào những điểm nghẽn ấy, hội nghị không chỉ tìm cách tháo gỡ từng nút thắt riêng lẻ, mà đặt yêu cầu xử lý đồng bộ từ thể chế, tổ chức, con người đến phương thức lãnh đạo, quản trị, gắn xây dựng Đảng với quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với những quyết sách mang tầm chiến lược, Hội nghị Trung ương 3 cũng dành sự quan tâm đặc biệt đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm. Trung ương đánh giá kinh tế đạt nhiều kết quả tích cực, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất cùng kỳ trong 16 năm qua; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% trong năm 2026 vẫn là thách thức lớn. Điều đó đòi hỏi tiếp tục khơi thông các nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy đầu tư, nâng cao năng suất, củng cố nội lực và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong những năm tiếp theo.
Nổi bật trong các quyết sách được Trung ương thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 là Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đây là một nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, được Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá là "vấn đề rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ", có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn. Đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới; chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng mà xác lập mô hình phát triển tổng thể; cụ thể hóa đường lối, khát vọng phát triển đất nước; lấy nhân dân và con người làm mục tiêu cao nhất; kết tinh những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết liên quan và chắt lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp. Từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ, Việt Nam chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả, lấy con người làm trung tâm, khoa học - công nghệ làm động lực, thể chế hiện đại và quản trị quốc gia hiệu quả làm nền tảng. Đặc biệt, Nghị quyết đặt ra các mốc mục tiêu cụ thể đến năm 2030, 2035, 2045 và tầm nhìn xa đến năm 2130, cho thấy tầm nhìn chiến lược và sự kiên định, bền bỉ của Đảng trong việc định hình tương lai đất nước.
Nếu Nghị quyết số 19-NQ/TW trả lời câu hỏi Việt Nam sẽ phát triển theo mô hình nào, thì các quyết sách về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, cùng với định hướng sửa đổi Luật Đất đai, thành lập thành phố Bắc Ninh, thành phố Quảng Ninh và các luật có liên quan trả lời câu hỏi: đất nước sẽ phát triển trên không gian nào và bằng cách tổ chức, khai thác các nguồn lực ra sao. Hội nghị Trung ương 3 nhìn nhận đất đai và biển là hai cấu phần quan trọng của không gian phát triển đất nước. Trong đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh tiếp tục mở rộng không gian phát triển quốc gia, xác định biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; gắn phát triển kinh tế biển hiện đại với bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống nhân dân và giữ vững chủ quyền quốc gia. Biển không chỉ là nguồn tài nguyên hay tuyến giao thương quan trọng, mà còn là cửa ngõ kết nối Việt Nam với các chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong tiến trình hội nhập. Phát triển biển không chỉ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế, mà còn mở rộng dư địa phát triển quốc gia trong bối cảnh đất liền ngày càng chịu nhiều sức ép về tài nguyên, không gian và hạ tầng. Đó là tư duy phát triển hướng ra biển, đồng thời cũng là tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển và bảo vệ trong một chỉnh thể thống nhất.
Song hành với đó, việc định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tiếp tục khẳng định quyết tâm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Đất đai được xác định không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là nguồn lực phát triển chiến lược, cần được quản trị theo tư duy hiện đại, công khai, minh bạch và hiệu quả hơn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
(Còn nữa)
Thông cáo báo chí số 9, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội Khóa XVI
Giữ vững định hướng sáp nhập trường học công lập
Đoàn đại biểu tỉnh Lai Châu viếng Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane
Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển trong giai đoạn mới
Công bố quyết định về công tác cán bộ tại xã Lê Lợi
Quan tâm tạo việc làm, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước Australia
Lối sống hai mặt - căn bệnh làm xói mòn phẩm chất cán bộ