-
Mỗi độ xuân về, khi sương mỏng còn giăng nhẹ trên triền núi, người làm chè trên địa bàn tỉnh lại rộn ràng bước vào vụ thu hái đầu năm. Vụ chè mang theo nhiều kỳ vọng về một mùa bội thu, một năm mới khởi sắc.
Từ cây trồng truyền thống đến cây trồng chủ lực
Cây chè được trồng tại Lai Châu từ những năm 1960, do hai nông trường quốc doanh tiền thân là Công ty Cổ phần Trà Than Uyên và Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Chè Tam Đường thực hiện. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, từ năm 2011 đến nay, với sự vào cuộc đồng bộ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh thông qua các đề án, cơ chế, chính sách hỗ trợ, cây chè đã được khôi phục và phát triển mạnh mẽ.
Đến nay, toàn tỉnh có trên 10.700ha chè, với các giống chủ yếu như: Shan, Kim Tuyên, PH8, phân bố tại nhiều địa phương. Cây chè tiếp tục khẳng định là cây trồng xóa đói giảm nghèo hiệu quả, khi mang lại thu nhập bình quân từ 100-200 triệu đồng/ha/năm, cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động nông thôn.
Điển hình như xã Tân Uyên, cây chè đã hiện diện hơn 60 năm và đang đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế địa phương; và sự thay đổi rõ nét thực sự diễn ra khi mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng chè được triển khai, tạo nền tảng cho giảm nghèo bền vững và nâng cao giá trị nông sản.

Cây chè đã hiện diện hơn 60 năm và đang đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế của xã Tân Uyên.
Nòng cốt của chuỗi liên kết này là Công ty Cổ phần Trà Than Uyên - đơn vị đang từng bước đưa sản phẩm chè Lai Châu tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng. Công ty có tiền thân là Nông trường Quân đội Than Uyên, thành lập năm 1959; đến năm 1993 chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, đánh dấu bước chuyển sang sản xuất theo hướng hiện đại, ứng dụng khoa học kỹ thuật và quản trị tiên tiến.
Hiện nay, công ty quản lý vùng nguyên liệu trên 700ha, trong đó hơn 400ha được canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP. Hệ thống chế biến đạt công suất 80 tấn/ngày, vận hành theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018, bảo đảm kiểm soát chất lượng đồng bộ từ nguyên liệu đến thành phẩm.
Sản lượng chè khô hằng năm của công ty đạt trên 2.000 tấn, doanh thu bình quân vượt 100 tỷ đồng. Công ty tạo việc làm ổn định cho hơn 200 lao động thường xuyên, đồng thời, mang lại thu nhập cho hàng nghìn lao động thời vụ và hộ trồng chè trên địa bàn. Cây chè vì thế không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn là sinh kế chính của nhiều gia đình ở Tân Uyên.

Chè đã và đang trở thành cây chủ lực giúp người dân xã Tân Uyên xóa đói giảm nghèo.
Anh Vũ Thanh Bình - Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Chiến lược phát triển của công ty là lấy chất lượng làm trọng tâm. Toàn bộ quy trình từ trồng, chăm sóc, thu hái đến chế biến và bảo quản được kiểm soát chặt chẽ. Từ năm 2010, công ty triển khai mô hình liên kết “bốn nhà” nhằm đồng bộ hóa vùng nguyên liệu. Người trồng chè được tập huấn kỹ thuật định kỳ, tiếp cận phương thức canh tác an toàn và nâng cao nhận thức về giá trị sản phẩm.
Nhờ định hướng này, chè của công ty đã đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Đài Loan và nhiều quốc gia Châu Á, Tây Á. Song song đó, công ty đã xây dựng được gần 12ha chè hữu cơ đạt chứng nhận, tạo bước đi dài hạn trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng nông sản sạch trên thế giới ngày càng gia tăng, đồng thời, thúc đẩy người dân chuyển đổi tư duy sản xuất theo hướng bền vững.
Nâng tầm giá trị từ chất lượng và an toàn
Nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm chè, những năm qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động tham mưu cho tỉnh ban hành và triển khai nhiều cơ chế, chính sách quan trọng. Tiêu biểu là Nghị quyết số 13/2019/NQ-HĐND về hỗ trợ liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và Nghị quyết số 07/2021/NQ-HĐND về phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung giai đoạn 2021-2025.
Nhờ đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn được đẩy mạnh. Đến nay, toàn tỉnh có 62,4ha chè được chứng nhận, trong đó 57,4ha đạt VietGAP, 5ha đạt chứng nhận hữu cơ. Cùng với đó, công tác quản lý mã số vùng trồng, kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất, chế biến chè được duy trì thường xuyên, từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Không chỉ dừng lại ở sản xuất, ngành Nông nghiệp tỉnh còn phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy mạnh quảng bá, kết nối tiêu thụ sản phẩm chè thông qua hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại trong và ngoài tỉnh; tham gia các sàn thương mại điện tử; hội nghị, hội thảo, chương trình kết nối cung cầu, giao thương…
Song song với đó, tỉnh bố trí kinh phí xây dựng các mô hình chè VietGAP, hữu cơ, RA; xây dựng bể thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, đẩy mạnh xã hội hóa công tác thu gom, xử lý rác thải nông nghiệp tại các vùng chè tập trung; hướng dẫn và cấp 4 mã số vùng trồng chè với diện tích gần 62ha tại các địa phương như: phường Đoàn Kết, xã Khoen On, Tân Uyên… Các vùng chè đạt mã số vùng trồng đều được sản xuất theo quy trình an toàn, sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu sinh học và có sổ ghi chép nhật ký chăm sóc rõ ràng.

Người dân xã Mường Kim rộn ràng bước vào vụ thu hái đầu năm.
Gia đình chị Phùng Thanh Bình ở tổ dân phố Cư Nhà La (phường Đoàn Kết) có 40ha chè Shan tuyết và Kim Tuyên, trong đó 20ha đã được cấp mã vùng từ tháng 9/2024. Nhờ áp dụng quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, chất lượng chè tăng rõ rệt, sản lượng búp chè tươi mỗi vụ đạt trên 100 tấn. Đặc biệt, sản phẩm của gia đình đã được khách hàng chú ý hơn, mở ra cơ hội tiêu thụ rộng rãi hơn. Chị Bình chia sẻ: “Trước đây chè làm ra phụ thuộc vào thương lái, giá bấp bênh. Từ khi được cấp mã vùng, sản xuất theo đúng quy trình, chè có đầu ra ổn định hơn, được khách hàng đánh giá cao hơn về chất lượng”.
Hiện nay, tỉnh Lai Châu có gần 100 cơ sở chế biến chè. Sản phẩm chè của tỉnh đã được xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp sang các thị trường như Đài Loan, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ... mỗi năm mang về khoảng 10 triệu USD. Tuy nhiên, để giữ vững và mở rộng thị trường, tỉnh đang định hướng tất cả các vùng chè phải gắn với mã số vùng trồng và đạt tiêu chuẩn VietGAP hoặc hữu cơ.

Nhiều vùng chè trở thành những điểm du lịch thu hút du khách đến tham quan.
Đánh giá về những nỗ lực trong phát triển chè thời gian qua, đồng chí Nguyễn Trọng Lịch – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: Việc nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu chè gắn với bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm không chỉ là yêu cầu của thị trường mà còn là hướng đi bền vững cho ngành chè Lai Châu. Những kết quả đạt được bước đầu đã tạo nền tảng quan trọng để chè Lai Châu khẳng định vị thế, nâng cao sức cạnh tranh trong nước và hướng tới xuất khẩu ổn định. Thời gian tới, để hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng, quảng bá và bảo hộ thương hiệu chè, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành liên quan đẩy mạnh xúc tiến thương mại, giới thiệu chè Lai Châu tại các sự kiện trong và ngoài nước; đồng thời, tháo gỡ rào cản thương mại, đàm phán mở rộng thị trường xuất khẩu.
Xuân này, trên những đồi chè Lai Châu, không chỉ có sắc xanh của lộc non mà còn có niềm tin vào một hướng đi đúng đắn. Hơi thở mùa xuân lan tỏa trong từng búp chè, trong nụ cười người nông dân và trong quyết tâm của cả hệ thống chính trị để chè Lai Châu vươn xa, bền vững, mang hương vị của núi rừng đến với nhiều miền đất mới.
Hướng tới nền nông nghiệp hàng hóa, kinh tế xanh bền vững
Lai Châu bứt phá phát triển hạ tầng giao thông
Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Nông nghiệp và Môi trường
Lai Châu: Dấu ấn tăng trưởng kinh tế năm 2025
Tân Phong khai thác hiệu quả lợi thế tự nhiên, phát triển thuỷ sản
Bước tiến vững chắc, tạo đà cho Bình Lư phát triển
Khai mạc Phiên chợ nông sản tỉnh Lai Châu lần thứ 3 năm 2025
Giám sát từ cộng đồng - nâng cao hiệu quả đầu tư ở xã Dào San